Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Miền Tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực Miền Tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Khoai lang ngào đường thốt nốt giòn tan

Thêm vài giọt nước cốt chanh khi thắng đường sẽ giúp món khoai của bạn giòn tan.
Khoai lang chứa hàm lượng cao beta-caroten, vitamin A, B, C, chất khoáng và chất xơ cần thiết cho hệ tiêu hóa.

Nguyên liệu:

Khoai lang ruột vàng, rửa sạch, gọt vỏ: 1kg
Thốt nốt: 500gr
1 muỗng cà phê muối
Mè trắng rang vàng: 100gr


Khoai lang chứa hàm lượng cao beta-caroten, vitamin A, B, C, chất khoáng và chất xơ

Cách làm:

Khoai cắt dọc rồi bào mỏng. Cho khoai vào thó có ít nước vôi trắng đã khơi trong (loại vôi dùng để ăn trầu) hay ngâm trong nước muối để khoai không bị thâm. Ngâm khoảng 5 phút, vớt ra, xả lại nhiều lần với nước lạnh cho sạch.
Đun sôi ít nước, cho số đường thốt nốt vào, vặn lửa vừa, khuấy đều cho tan. Khi đường đã tan hết, nhẹ nhàng cho khoai lang vào trộn đều và bắt lên chảo rim nhỏ lửa đến khi thấy khoai vừa dẻo lại, tiếp tục trộn mè rang vào, xóc đến khi khoai khô và áo đều, tắt bếp. Thưởng thức.

Bí quyết: khi thắng đường trên bếp lửa, bạn có thể nhỏ vào vài giọt nước cốt chanh cho đường sệt lại rồi tắt lửa, món khoai của bạn sẽ giòn tan.

Chè rau câu sương sáo củ năng

Củ năng ngọt mát ăn kèm với các loại thạch rau câu màu sắc sẽ mang đến cảm giác mát lạnh trong những ngày thời tiết nắng nóng.

Chè rau câu sương sáo củ năng mát lạnh

Nguyên liệu:

Dừa nạo, vắt lấy nước, nấu cho keo lại: 500gr
Đường cát trắng nấu với nước cho đường keo lại: 300gr
Củ năng tươi gọt vỏ xắt hạt lựu nhỏ khoảng 0,5cm: 200gr
Bột năng: 200gr
Rau câu, ngâm nước cho nở khoảng 30 phút: 10gr
Sương sáo đen nửa bánh

Cách làm:
Củ năng rửa sạch, xắt hạt lựu, cho vào hũ, cho 3 muỗng cà phê bột năng vào đậy kín, lắc đều. Bắc nồi nước nấu sôi, cho củ năng vào luộc chín, khi thấy hạt nổi lên lấy ra xả nước lạnh, sau đó ngâm vào đá lạnh, vớt ra để ráo.

Làm sương sa: Rau câu đã ngâm, bắt lên bếp khuấy đều tay cho tan hết trong nước. Đổ rau câu vào tô, để nguội, xắt sợi dài.

Khi ăn, xúc hạt lựu, rau câu đã xắt sợi, sương sáo xắt hạt lựu, nước dừa, nước đường, đá vụn cho vào chén và thưởng thức.

Mẹo hay: có thể cho thêm vào món chè sương sáo này ít dầu chuối hoặc vani cho thơm và hấp dẫn hơn. Ngoài ra thêm đậu xanh cũng rất ngon.

Theo Bếp gia đình

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2014

Đong đầy con ruốc Gò Công

Không phải chùm khế ngọt sau hè, chính những con ruốc nhỏ đã nhen nhúm trong tôi một tình yêu quê nhà.
Không phải chùm khế ngọt sau hè, chính những con ruốc nhỏ thân bằng cây tăm, trắng tươi, dập dìu trên đầu con sóng, bám víu cồn bãi nước lợ gần cuối mùa gió chướng (ra giêng) đã nhen nhúm trong tôi một tình yêu quê nhà.

Mắm ruốc làm theo cách truyền thống, ở thị xã Gò Công. Ảnh: Tùng Châu

Cách nay khoảng ba năm, một đàn anh, đồng nghiệp – đồng hương, trách móc tôi. Đại ý, ăn “mòn răng” hột cơm, chén mắm quê hương mà không chịu “nhả” chữ trả nợ. Cứ mải mê ca tụng món ngon trên trời, dưới đất xứ... người ta. Thói thường, món thân quen khác nào... cơm nguội. Cho nên, tôi đi tìm phở cũng đúng thôi.

Nào ngờ, suy thoái kinh tế hụp quá sâu. Trong cái rủi có cái may, nhờ vậy, hũ mắm ruốc rẻ bèo, cô đơn nơi góc bếp có dịp ghi điểm mười.

Bữa sáng, lấy cơm nguội rang (xáo) lại ăn với chén mắm ruốc pha, kèm mấy trái đậu rồng non, dưa leo, vài miếng khóm ngọt xắt mỏng, cắn nửa trái ớt chim xanh, ngon đến no nê! Nghe dạt dào năng lượng cho cả ngày. Dạo này, tôi tập sống như Tây – kinh tế mà khoa học: sáng nạp nhiều thực phẩm, trưa lưng lửng, tối... qua loa.

Mắm ngon nhờ nắng và bí quyết

Có dịp về chợ thị xã Gò Công Đông, Tiền Giang, bạn thử dò hỏi mười người rằng, mắm ruốc lò nào ngon. Bảo đảm, sẽ có chín người đáp: mắm Bà Hai. Nhiều lão niên ở gần chợ này kể, trước năm 1975, Bà Hai đã đều đặn ủ mắm mang ra ngồi bán, ở một góc chợ thị xã, mỗi sáng.

Cả huyện Gò Công Đông có ít nhất bốn lò làm mắm ruốc chuyên nghiệp, nhưng mắm Bà Năm, Chị Tám... màu sắc không ửng hồng, độ mặn – ngọt – cay vừa phải, cũng như mùi thơm không đặc trưng lắm.

Nay Bà Hai đã khuất núi từ lâu, cháu ngoại bà còn giữ nghiệp. Anh Huỳnh Hiếu Nghĩa, giáo viên cấp 2, ở khu phố 1, phường 5 thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Cháu bà bật mí đôi chút: “Ruốc tươi, lựa kỹ, rửa sạch, phơi ráo bằng sàng tre”.

Giáo Nghĩa rất kiệm lời, vì sợ những lò đối thủ “chôm” bí quyết gia truyền. Thật ra, ngoài hương vị con ruốc nước lợ ngọt thanh, ít tanh còn có sự hỗ trợ khắc nghiệt của thiên nhiên: nắng!

Vậy mắm có ngon không anh?, tôi hỏi. Giáo Nghĩa chắt lưỡi ngay: Khỏi chê. Nhờ nắng đó!
Còn loại ruốc nước lợ thì nhiều tỉnh lân cận cũng có: Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu... Nhưng mắm ruốc đặc sắc thì các nơi đó không có.

Đồng thời, lòng hiếu khách và sự chịu khó của phụ nữ Gò Công cũng là đặc sản đáng nể. Có ba người được tuyển chọn về làm dâu triều Nguyễn, tiêu biểu nhất là bà Từ Dũ (Phạm Thị Hằng), con gái quốc công Phạm Đăng Hưng.
Trong đó, ngoài tiêu chuẩn công dung ngôn hạnh và sắc đẹp trời ban, còn có yếu tố lịch sử. Ngược dòng mở cõi, một số lưu dân đất Quảng đã vào đây khẩn hoang, lập ấp. Đồng thời, họ cũng mang theo luôn “văn minh mắm” vừa học được của người Chăm.

Mắm ruốc dễ tính với nhiều món

Riêng con ruốc bé tẹo, vỏ mỏng và trắng tinh như giấy, một thời được đổ vun ngọn như những đống lúa ở chợ cảng Vàm Láng cùng huyện, khoảng nửa tháng giêng đến hết tháng tám âm lịch. Phơi khô thì mất hết thịt, phơi héo héo lại không có tủ lạnh để trữ. Thế là nhà nhà rủ nhau mua về làm mắm.

Giá rẻ bèo! Đơn vị tính bằng thúng, giạ (2 thúng) hoặc thùng táo (khoảng 20 lít). Thời đó, mẹ, chị, cô, dì và gần cả xóm tôi, nửa khuya, đã í ới quảy giống thúng, băng đồng gần 20 cây số hai bận đi về, nói gọn là “đi đón ruốc”.


Bộ ba mắm ngon xứ Gò: còng – tôm chà – ruốc. Ảnh: Tùng Châu

Trở lại lò mắm Bà Hai, quan sát kỹ hơn, tôi nhận ra sự khác biệt về cách làm, so với các lò khác trong vùng. Đó là con ruốc sau khi được lựa cá tạp và rửa sạch cát, sẽ cho “uống” ít rượu đế và ướp sơ một lượng muối, rồi đem trải mỏng lên sàng tre phơi nhanh dưới nắng gắt. Phơi đến khi con ruốc rệu, tươm bột dẻo thơm đặc trưng, gia chủ mới mang quết hoặc xay nhuyễn. Rồi gia vị thêm: muối, đường, tỏi và ớt giã..., theo một tỷ lệ... “không nói đâu”!

Cách ủ mắm ruốc thông thường là gia vị chỉ một lần, rồi quết hoặc xay nhuyễn trước khi phơi. Đợi ruốc rệu, đem nhận vào chậu, đậy kín, chờ 20 – 30 ngày sau sẽ chín ngon. Mắm mặn thì lâu ăn hơn mắm lạt cỡ mười ngày, nhưng để cả năm vẫn không hư. Tỷ lệ muối – ruốc: 1,2kg – 10kg, với mắm lạt phải giảm bớt 400g muối.

Mẹ tôi làm mắm ruốc còn kỹ lưỡng hơn, ban đầu bà trộn đều ít rượu với muối, ớt giã vào ruốc rồi quết sơ. Đem phơi. Quết lại cho thật nhuyễn, nêm thêm cho thật vừa ăn rồi nhận vào cái tỉn (vịm) da nâu già cỗi. Bà phủ kín mấy lớp lá chuối tươi trên miệng tỉn, rồi chụp cái gáo dừa vừa vặn, vần vào góc mát, lấy cục đá nhỏ dằn lên. Buổi trưa, nắng gắt vẫn có thể táp vào thân tỉn, khoảng một tiếng rưỡi/ngày.

Thêm một “nết” dễ thương khác của mắm ruốc là rất... linh động, “cởi mở” như người làm ra nó. Giản tiện thì bẻ vài trái chuối xanh, hái 5 – 7 trái ổi sẻ chua, quệt cục mắm ruốc nhà, ngồi dưới gốc me già làm sạch một tượng con rồng cơm trắng, sau một cữ làm đồng.

Chiều chiều, cơm nước xong, đám bạn chị tôi cầm mấy trái xoài hườm, nhảy chân sáo sang “hùn” với mắm ruốc. Xoài tươi giòn, chua chua lẫn ngòn ngọt và ít vị chát quệt mắm ruốc; thôi thì đến... mỏi tay.

Mẹ tôi vẫn thường nói: “Con chim manh manh còn làm được bảy mâm, huống chi mắm ruốc!” Quả thật, bà chế nhiều món cứ nhắc đến là nghẹn ngào... mà tươm nước bọt! Nào đổ chả với lòng đỏ trứng gà, tóp mỡ heo, bắp non bào, củ hành hương... Thơm bát ngát, nhất là những ngày mưa dầm lạnh lẽo. Hoặc món cá kèo “trời” (tự nhiên) kho mắm ruốc, cũng ngon vô kể.

Có nhiều dịp rong ruổi, tôi còn học được nhiều món lạ, cần mắm ruốc “góp sức”. Chẳng hạn, canh chua mắm ruốc, lẩu mắm ruốc hải sản... Và, “minh định” rằng, hương vị mắm ruốc Ninh Thuận, Vũng Tàu vẫn không “qua ” mắm ruốc xứ Gò.

Một “bậc thầy” về mắm ba miền, có lần cắc cớ nói: “Xứ mày có nhiều gái đẹp chắc nhờ... gió độc?!” (Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc/Gió nào độc bằng gió Gò Công... – ca dao).

Xin thưa, nhờ những con... mắm nhỏ!
Theo Tấn Tới (Sài Gòn tiếp thị)

Đậm đà bản sắc với ẩm thực An Giang

Được biết đến là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc cư trú như: Chăm, Khmer, Hoa, Việt…với những nền văn hóa đa dạng. Vì thế mà những món ăn của An Giang đều mang đậm bản sắc riêng.

Gỏi sầu đâu

Cây sầu đâu còn gọi là cây xoan ăn gỏi, một loài cây mọc hoang, nhiều nhất ở Châu Đốc và vùng Bảy Núi - An Giang. Lá sầu đâu nhỏ, dài và mỏng. Lúc còn non, đọt có màu tim tím.

Lá sầu đâu được chế biến thành nhiều món ăn, phổ biến nhất là sầu đâu chấm cá kho, thịt kho hoặc ăn kèm với mắm thái, mắm chưng, từng được coi là món ngon hiếm có trên đời. Chính vị mặn nồng của mắm hòa hợp với vị đăng đắng, hậu ngọt của lá sầu đâu sẽ làm cho vị giác lâng lâng khó tả, càng ăn càng cảm thấy khoái khẩu. Nhưng thực đơn nổi tiếng nhất ở An Giang xưa nay vẫn là món gỏi sầu đâu. Từ gỏi tôm, gỏi thịt, gỏi cá cho đến gỏi khô, thứ nào cũng tuyệt hảo.


Gỏi sầu đâu Châu Đốc

Trước hết phải chọn cho được những đọt non kèm với bông. Khô cá lóc sau khi nướng chín, xé ra từng miếng nhỏ rồi trộn chung với đọt sầu đâu. Bí quyết của món gỏi này là phải trộn với nước me chua (dùng me chín ngâm trong nước ấm cho tan), thêm chút đường, ớt cho thấm độ 10 phút. Nước chấm cũng là thứ nước mắm me đậm đặc, cay, chua nhưng vừa ăn, không mặn, nhằm làm tăng thêm hương vị đậm đà. Ai thích cầu kỳ và sang trọng hơn có thể trộn với tôm sú và thịt ba rọi xắt mỏng, kèm thêm dưa leo hoặc xoài chua bằm nhỏ sẽ hết chỗ chê. Món này mà có thêm chai rượu nếp nhất định buổi tiệc sẽ hào hứng không thua gì khi đang dùng cao lương mỹ vị.

Vị đắng dìu dịu của sầu đâu và vị mặn, ngọt, dai dai của cá quyện với nhau càng làm cho khẩu vị thăng hoa nhờ mùi đặc trưng, lạ miệng, hoàn toàn không giống với bất cứ loại gỏi nào.

Sầu đâu không những là đặc sản của An Giang mà còn là món ăn vị thuốc. Nhiều tài liệu về y dược cho biết trong vỏ, lá, quả và gỗ của cây sầu đâu đều có chất khổ vị tố (chất đắng) có tác dụng chữa giun rất tốt.

Mắm ruột

An Giang nổi tiếng về mắm và mắm ruột là món ăn làm từ ruột cá ngon, trộn với thính gạo lứt để chừng ba tháng. Mắm ngấu chao với đường thốt nốt lên vị rất ngon.

Mắm Thái hay còn gọi là mắm ruột

Ruột cá làm mắm phải chọn từ cá to, mập và phải có thêm chùm trứng to vàng. Sau khi moi mổ bụng cá lấy bộ ruột phải thật khéo tay lột bớt lớp mỡ bao quanh, sau cho thứ chất béo này đủ làm tươm bóng miếng mắm mà không gây mùi.

Đây cũng là khâu quyết định đến chất lượng mẻ mắm. Chỉ cần bớt tý mỡ, ruột mắm thiếu độ mướt, nét căng da thẳng thịt. Nhiều mỡ quá, miếng mắm sẽ bị lên dầu, chất lượng kém ngay. Sau đó dùng dao mũi nhọn tách bỏ bớt ruột già, đoạn "chần" bao tử, ruột non cho thật sạch rồi mang ra rửa thật kỹ bằng nước sông, ngâm vào dung dịch muối được pha chế theo công thức gia truyền.

Vài hôm sau khi ruột cá đã "ăn" muối, vớt ra rổ lại đợi ráo đoạn trộn với thính (gạo lứt rang vàng, xay mịn) đổ vào hũ gài vỉ tre thật khít chặt. Sau đó đổ nước mắm ngon loại thượng hảo hạng vào vừa xâm xấp ướt. Chờ khoảng một tháng, thắng đường thốt nốt "chao" mắm, ba tháng sau đã có hũ mắm ruột ngon tuyệt rồi.

Mắm ruột

Mắm sống ra ăn kèm với rau thơm, ớt "sừng trâu". Người cầu kỳ ham thích đậm đà hương vị thì cho mắm chưng với thịt ba rọi, hột vịt, rắc chút hành tiêu, vài lát gừng xắt mỏng. Người ta thích ăn nóng hôi hổi, thoang thoảng hơi cay của sả ớt thì chọn mắm kho ăn kèm mớ rau đồng xanh mơn mởn.

Xôi phồng chợ Mới

Chợ Mới được phù sa bồi đắp quanh năm nên cây nếp bản địa chất lượng cao, hạt tròn, đẹp. Nếp kết hợp với đậu trồng trên đất rẫy cho ra món xôi dẻo thơm. Đậu và nếp được hấp chín như nấu xôi truyền thống. Sau đó, phụ nữ đất cù lao dùng chày quết nhuyễn hỗn hợp nếp và đậu này lại với nhau.

Càng quết xôi càng dẻo dai, được cho thêm dầu ăn vào để “chống” dính và tạo độ bóng. Xôi ở Chợ Mới sau khi quết được cho vào khay hoặc quấn lại thành cuốn tròn để tiện bảo quản trong tủ lạnh. Khi dùng, khách chỉ cần cắt từng khoanh vừa ăn, chiên với dầu nóng. Xôi chiên có màu vàng ươm, thơm, ăn rất ngon.

Những chiếc bánh xôi phồng khổng lồ

Ăn xôi chiên phồng Chợ Mới có thể chấm với tương ớt, xì dầu hoặc ăn không vẫn “bắt”. Khách đến Chợ Mới, cù lao Giêng có thể thưởng thức xôi chiên với gà quay. Gà được nuôi thả vườn nên thịt dai và ngọt, được quay thủ công nên giữ được vị thơm của gà và mùi vị đặc trưng.

Món gà quay ăn với xôi phồng mới nghe đã ngán - nhưng khi thưởng thức tại Chợ Mới này thì có vị khác lạ, làm khách cứ ăn mãi, quên thôi. Nhiều du khách đến đây chỉ yêu cầu luộc gà hoặc quay gà rồi ăn với xôi chiên phồng thay cho bữa ăn chính.

Chợ Mới có nhiều cơ sở làm xôi để phục vụ trước hết cho người dân địa phương. Trong mâm quả đi cưới ở đây hiện vẫn phải có mâm xôi truyền thống. Xôi phồng Kim Hương của bà Hồng Thu ở thị trấn Chợ Mới được nhiều người biết đến không chỉ chế biến ngon miệng mà còn biết cách xây dựng thương hiệu...
Tung lò mò

"Tung lò mò" chính là một tên gọi khác của món lạp xưởng bò. Đây là món ngon độc đáo của người Chăm ở An Giang. Là đồng bào theo đạo Hồi, đồng bào người Chăm không ăn thịt lợn mà chỉ ăn thịt bò. Món “tung lò mò” theo ngôn ngữ của người dân nơi đây chính là để chỉ món lạp xưởng làm từ thịt bò.

Lạp xưởng được hong khô

Từ lâu, người Kinh cũng ưa thích và chế biến món lạp xưởng bò gần giống như của người Chăm và hiện phổ biến rộng rãi ở phường Núi Sam, Châu Đốc, Tịnh Biên và Tri Tôn.

Thịt bò vụn sau khi loại bỏ hết gân và mỡ giắt được xắt miếng, được băm hoặc xay nhỏ sau khi khử mùi bò bằng rượu và gừng. Thịt và mỡ bò phải theo tỷ lệ hai thịt một mỡ và mỡ bò dùng làm lạp xưởng là loại mỡ sa, mỡ chày vừa mỏng, vừa không nặng mùi như mỡ thăn. Sau đó họ trộn đều hỗn hợp thịt với hạt tiêu, tỏi, bột ngọt, đường cùng một vài loại gia vị bí truyền.

Lạp xưởng khi nướng chín

Thế nhưng nguyên liệu nhất thiết phải có trong món ăn này đó là cơm nguội. Đây chính là bí quyết để “tung lò mò” trở thành món ngon độc đáo hơn lạp xưởng bò bình thường nhờ cơm nguội lên men có vị chua lạ miệng.

Muốn cho món lạp xưởng bò này thơm, ngon và có mùi hấp dẫn ngoài những gia vị trên phải có thêm gia vị đại hồi và tiểu hồi.

Khác lạp xưởng lợn, lạp xưởng bò sau khi làm xong chỉ cần phơi cho khô là có thể đem chiên hoặc nướng. Hấp dẫn nhất là lạp xưởng nướng trên bếp than hồng. Khi nướng chín xong cắt ra thành viên có màu đỏ hồng, hương bay thơm phức không còn mùi mỡ bò.

“Tung lò mò” nướng nên chín tới đâu, ăn tới đó. Bạn sẽ thấy vị ngọt bùi của thịt và mỡ bò, vị chua chua của cơm nguội lên men hòa cùng gia vị cay của ớt, lại ăn kèm với rau sống, rau cần tươi, vị chua của khế, vị chát của chuối sống. Lạp xưởng bò khi ăn phải chấm muối tiêu chanh hoặc tương ớt. Hấp dẫn hơn là có ăn kèm rau sống và ăn chung với bún hoặc bánh mì.

Món ăn này để ăn cơm hay nhâm nhi đều hấp dẫn. Không riêng gì người Chăm mà người Việt, người Hoa cũng khoái món này. Để phù hợp với khẩu vị của người Kinh, “tung lò mò” được cải biến bằng cách bỏ phần cơm nguội, không còn mùi chua gốc, nhưng có mùi thơm lạ rất được ưa chuộng.

Bánh phồng Phú Mỹ

Làng nghề bánh phồng Phú Mỹ hình thành, tồn tại và phát triển gần 70 năm nay, có 50 cơ sở sản xuất, thu hút khoảng 300 lao động. Trong đó, các gia đình nổi tiếng có truyền thống làm bánh như gia đình cụ Lê Minh Dơn, Ngô Thị Dờn, Trần Văn Tâm...

Bánh phồng Phú Mỹ

Theo các bậc cao niên tại làng nghề, nguyên liệu làm bánh phồng là loại nếp đặc sản được trồng tại địa phương. Các công đoạn làm bánh rất công phu. Người làm bánh chọn loại nếp rặt, ngon. Nếp được ngâm đúng ba ngày ba đêm, đãi cho sạch nước đục, đem xôi lên rồi bỏ vào cối quết.

Sau khi nếp được quết nhuyễn, đem ra cán thành bánh, phơi nắng rồi đem vào nhúng nước đường và phơi lại lần nữa cho khô mới đóng gói. Các phụ gia như đậu, mè, sữa... được đưa lần lượt vào bánh theo từng công đoạn.

Trước đây, người làm bánh quết bột bằng chày tay, nay đã có máy kéo chày thay thế nên người làm bánh đỡ nhọc công và sản phẩm được cải thiện rõ nét cả về chất lượng lẫn số lượng.

Bánh phồng Phú Mỹ nhỏ bằng cái dĩa nhưng nướng chín phồng to hơn cái quạt nan. Bánh vừa xốp, vừa mềm, cắn vào nghe “phao” miệng bởi vị béo của nếp, vị ngọt của đường, mùi thơm của sữa, mè, đậu nành, đậu phộng... tạo nên hương vị đặc trưng và không thể thiếu trong bữa ăn ngày Tết hay các dịp đám tiệc, cưới hỏi.

Thời gian qua, bánh phồng Phú Mỹ được người tiêu dùng ưa chuộng nên làng nghề phát triển mạnh và sản xuất quanh năm, nhộn nhịp nhất là tháng giáp Tết.

Những kỳ hội chợ hay triển lãm tại An Giang, Cần Thơ hoặc TP Hồ Chí Minh, bánh phồng Phú Mỹ đều có mặt trong gian hàng trưng bày sản phẩm đặc sản của An Giang. Làng bánh phồng Phú Mỹ đã được UBND tỉnh An Giang công nhận làng nghề truyền thống vào cuối năm 2006. Nếu có dịp đến An Giang, bánh phồng Phú Mỹ là một món quà rất có ý nghĩa để bạn mang về làm quà cho người thân.

Gà hấp lá trúc

Gà hấp lá trúc

Đây là món ngon trên núi Cấm (Châu Đốc, An Giang). Trúc là loại cây có múi, mọc ở núi Cấm, hương vị độc đáo. Gà để hấp phải là gà thả vườn có trọng lượng 0,8-1kg, để nguyên con ướp sơ với muối, gia vị… rồi mang đi hấp cách thuỷ khoảng 20 phút. Thịt gà vừa chín tới dùng dao bén chặt thành miếng to cỡ 2 ngón tay, lá trúc xắt nhuyễn rải lên. Món ăn này mang đến cho thực khách cảm nhận được vị ngọt mềm của thịt, vị béo dai của da gà tơ hoà quyện với hương vị nồng the của lá trúc, ngọt chát của bắp chuối, cay cay của muối ớt…
Hiền Anh

Thương nhớ món ngon ba khía

Chưa có thứ hương vị nào đi vào hồn, vào ký ức bằng món ba khía muối.
Từ lúc còn cắp sách, tôi đã mê món ba khía rồi. Sau này lớn lên tôi mới hiểu Cà Mau và Bạc Liêu là vương quốc của họ hàng nhà ba khía. Do đó, mỗi lần xuống Cà Mau, tôi cố tìm cho được ba khía Rạch Gốc để mang về làm quà cho bạn bè.

Trong ký ức xa vời của tôi, thuở nhỏ tôi khoái nhất là mút càng ba khía hoặc cho cơm nguội vào mai trộn đều rồi dùng muỗng múc. Cái chất mằn mặn và beo béo của gạch ba khía thấm vào đầu lưỡi tạo nên một cảm giác lâng lâng, tuyệt vời, ăn hoài không ngán.

Mặc dù gần đây, nhiều nhà hàng, quán ăn đã biến tấu con ba khía thành nhiều món ăn độc đáo như: ba khía rang me, rang mỡ hành, ba khía luộc, ba khía nấu chao… món nào cũng ngon, nhưng chưa có thứ hương vị nào đi vào hồn, vào ký ức chúng ta bằng món ba khía muối.

Gần đây, nhiều bà nội trợ khéo tay đã dùng ba khía muối trộn thêm với thịt bò. Ở quê tôi, nhiều người còn ăn ba khía với khoai lang nấu, một món ăn đơn sơ, mộc mạc nhưng tuyệt kỹ, khó có món nào bì kịp.

Ngày nay, giữa trăm ngàn món ngon, vị lạ nhưng trong lòng chúng ta vẫn nghe rất đỗi thân quen cái mùi ba khía, nhất là những ngày hội hè tết nhứt, có khi cả tuần chỉ thịt với cá ngán ngẩm, lúc đó ta mới thấy thương nhớ món ba khía.

Người miền Tây có câu “Đừng lo cưới vợ miệt đồng. Ba khía cơm nguội ăn ròng cả năm”. Đúng vậy, ba khía ăn hoài mà vẫn không ngán.


Ba khía muối

Một lần theo chân đoàn du lịch về huyện Ngọc Hiển - Cà Mau, tôi được nghe ông Sáu Tuôi, một cựu chiến binh, quê ở Rạch Gốc, kể chuyện về con ba khía giống như một huyền thoại. Chúng thích đào hang ở những khu rừng rậm rạp, gần mé sông hoặc bãi biển rồi hằng đêm bò ra rủ nhau đi kiếm ăn.

Đặc biệt là mùa mưa, vào những đêm tối trời chúng bu đen những gốc mắm, gốc đước để làm tình, mọi người tha hồ mà bắt hoặc hốt. Khi trời sa mưa, ba khía bắt đầu lột vỏ, bụng mang đầy trứng.

Qua tháng 7, tháng 8 âm lịch trở đi, ba khía bắt đầu đẻ và thường hội vào những đêm tối trời, lặng gió, sôi động nhất là vào các đêm 30/8 và 30/9 chúng tụ hội về không biết cơ man nào mà kể, có nơi chúng bám dày đặc trên các gốc mắm, bò lềnh khênh trên bãi bờ hoặc leo lên thân cây đeo thành chùm, người đi săn chỉ cần dùng bao tay hoặc cây gạt ngang, chúng sẽ rơi vào thúng hoặc vào xuồng tha hồ mà bắt.

Được biết, khoảng trước năm 1954, ba khía sau khi muối và chế biến thành phẩm nó trở thành một món ăn nổi tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh. Đến mùa, nhiều thương lái để nguyên lu, nguyên khạp chở thẳng lên Sài Gòn và nước bạn Campuchia để bán.

Còn bây giờ thì nhiều người phải đốt đèn, xăn quần, lội nước soi bắt từng con. Nơi nào có ba khía là nơi đó có dấu chân “sát thủ” khiến nhiều người lo sợ một ngày nào đó con ba khía không còn đất dung thân…
Thương lắm ba khía ơi!
Theo Tấn Thành (Cà Mau Online)

Nấm mối - của trời cho

Nhiều xứ trên thế giới thừa nhận nấm mối vào hàng đệ nhất nấm dại có thể ăn được.
Mối đáng ghét, vì có nó trong nhà thì những gì có xenluloz đều tiêu. Nhưng thứ cộng sinh của nó lại… ghét hổng nổi
Sau khi phát hiện những gò nấm hoá thạch tại sa mạc Djurab ở miền Bắc nước Chad, nơi khai quật xương hoá thạch người cổ nhất mang tên Tournai khoảng 6 – 7 triệu năm tuổi, các nhà nghiên cứu Pháp khẳng định sự cộng sinh này đã tồn tại ít nhất 7 triệu năm.

Nấm nẻ lên từ nhà con mối

Mối đất làm tổ dưới đất hoặc trong các đống đất, vì chúng “lai kịch kịch” (như những kẻ thích like trên mạng xã hội) môi trường ẩm ướt. Thân thể nhỏ bé của chúng không có hệ tiêu hoá, và công việc của chúng gồm nghiền các mẩu gỗ đủ loại và tha về tổ. Vì trong tổ mát và ẩm, khi lượng dự trữ gỗ nghiền tăng lên, các vi sinh vật xuất hiện tạo ra đường làm nên thức ăn cho mối. Trữ lượng gỗ càng lớn, đường càng nhiều, và vì tổ mối tăng kích cỡ, dân số mối – hẳn nhiên là dốt sinh sản kế hoạch – cũng tăng lên.

Khi thời tiết thay đổi từ mưa lạnh sang khí trời mát dịu hoặc từ nóng sang mưa, là đến mùa giao phối của mối. Chúng mọc cánh và rời tổ với sức lực đang đỉnh cao. Chúng thích sưởi ấm gần ánh đèn, nơi những sát thủ như thằn lằn, tắc kè rình rập chúng. Bay đi với một lượng lớn, nhiều “tai nạn giao thông” do đâm vào nhau làm rụng cánh và chúng rơi xuống đất chết. Những con quay lại tổ thì rơi vào tay bọn nhái và cóc đói. Kết quả là hàng ngàn mối rời tổ chỉ có một số ít ỏi hát được bài “trở về mái nhà xưa”.

Điều đó có nghĩa là còn lại một lượng lớn gỗ hoặc đường, và có một số đường bị nhiễm các bào tử nấm. Chúng nảy mầm, và khi cây nấm lớn lên chúng hút thứ đường ấy vào thân chúng.

Ngoài kia, thời tiết thay đổi tác động đến độ chắc của đất. Mùa mưa làm cho khí trời mát mẻ, rồi nhiều cơn mưa lớn làm “thúi” đất. Nấm đang lớn dưới đất đã có thể trồi lên trên mặt đất. Những người săn nấm đã chực chờ chúng từ hồi nào. Sau lưng những thợ săn này là những nhà hàng ở Sài Gòn…


Nấm mối xào. Ảnh: Ngữ Yên

Nấm mối – của trời cho

Cái sự nhiễm bào tử nấm cũng còn nhiều bóng tối, khuất tất.

Với từ nấm mối, dò tìm trên mạng qua Google, chẳng thấy có một nghiên cứu nào bằng tiếng Việt. Tìm qua tên khoa học của nấm mối là termitomyces fungi, ta thấy có hàng trăm kết quả nghiên cứu về loại nấm dại này, hầu hết là của Trung Quốc dịch sang tiếng Anh. Thậm chí còn có cả patent về nuôi trồng nấm mối trong nhà kính. Trông người lại ngẫm đến ta, thiệt là muốn về yêu hoa mắc cỡ.

Những nghiên cứu phát hiện mối quan hệ giữa khuẩn trong ruột mối và trong tổ nấm. Những vi khuẩn trong ruột mối gồm Firmicutes, Bacteroidetes, Proteobacteria, Spirochaetes, Nitrospira, Deferribacteres, và Fibrobacteres; nhưng trong tổ nấm chỉ gồm Firmicutes, Bacteroidetes, Proteobacteria, và Acidobacteris.

Mùa nấm mối năm nay rộ lên ở Bến Tre vào khoảng giữa tháng 5, ngay sau những cây mưa chiều. Nhưng đất ngày càng hẹp, không có chỗ cho gò mối phát triển, sản lượng nấm ngày càng ít đi. Món đặc sản thiên nhiên ban tặng có thể mất đi dần dà trong sự thương thương tiếc tiếc của người dân Bến Tre với quá khứ về một món ngon mỗi năm chỉ kéo dài vắn vỏi. Ai mà biết có thể trồng nấm mối được không khi không ai nghiên cứu.

Nấm ở miền Đông cũng có, nhưng các cái lưỡi sành điệu lâu này vẫn “giám khảo” rằng nấm miền Tây ngon hơn. Nhiều xứ trên thế giới thừa nhận nấm mối vào hàng đệ nhất nấm dại có thể ăn được.

Cũng giống như nhiều người Việt, dân tây, dân tàu cũng đặt tên loài nấm này là chicken/ kê nhục. Nhưng so nấm với thịt gà như vậy có phần xúc phạm thứ nấm quý chỉ mọc hoang ở châu Á và châu Phi.

Nấm mối không còn là rau nữa, nó có thể thay thế bất kỳ thứ đạm động vật nào, đồng thời thay thế ở thứ hạng chiếu trên. Nhưng quan trọng nhất là lửa và nước xử lý nấm. Rửa hết tai này đến tai khác, không để chúng ngấm nước lâu. Xào chúng với nhiệt độ cao để tránh tình trạng mất nước làm lạt nấm.

Và, với dân Bến Tre, phải có một chút nước cốt dừa, cái ngon mới đong đầy ký ức. Một chút thì tôi giơ hai tay ủng hộ.

Theo Ngữ Yên (Sài Gòn tiếp thị)

Tự tay làm món Cà Pháo cho gia đình

Món ăn dân dã nhưng lại ngon miệng trong các bữa cơm gia đình, quá đơn giản để chế biến món cà pháo chua ngọt
Nguyên liệu:
- 1 kg cà pháo, 1/2 kg muối.
- 1 củ riềng, 1 củ gừng, 200 g ớt xay, 1 củ tỏi.
- Đường cát, nước mắm.
Cách chế biến:

- Cho cà pháo vào hũ thủy tinh, chế nước muối đã nguội vào ngập mặt cà, đậy kín nắp lại trong khoảng 7 ngày là được.- Cà pháo mua về gọt bỏ cuống, rửa sạch để ráo nước. Đun sôi khoảng 1 lít nước, cho muối vào hòa tan. Tỏi đập dập cho vào cùng.
- Cà pháo sau khi ngâm lấy ra rửa lại với nước ấm, thái đôi để làm mắm cà.
ca-phao-2-3949-1380614577.jpg
- Gừng, riềng gọt vỏ, thái sợi. Cho 300 ml nước lọc, 1 thìa canh nước mắm, 200 g đường cát rồi đun sôi.
- Nước mắm đường để nguội, cho gừng, riềng, ớt xay vào trộn đều.
ca-phao-3-2376-1380614577.jpg
- Tiếp đến cho cà vào trộn thật đều.
ca-phao-4-9093-1380614578.jpg
- Cho cà vào lọ thủy tinh, đậy nắp kín lại trong khoảng 1 ngày cho thấm gia vị.
ca-phao-5-6278-1380614578.jpg
- Cà pháo ngâm chua ngọt thường được ăn kèm với thịt luộc và cơm trắng, vừa đậm đà, vừa ngon miệng.

(Vnexpress)

Lưỡi heo trộn chua ngọt

Là món ăn có nhiều rau, có độ giòn sần sật của lưỡi heo thêm vị chua chua ngọt ngọt của nước mắm làm nên hương vị đặc trưng cho món ăn, lưỡi heo có tác dụng giúp bổ thận tư âm, bổ dưỡng can huyết, nhuận táo, nhuận da.
Nguyên liệu:
Lưỡi heo: 300g; Hành tây: 1/2 củ; Ớt chuông đỏ: 1/2 trái; Ớt chuông xanh: 1/2 trái; Hành tím: 3 củ; Sả: 1 cây; Ngò gai: 3 cọng; Hành phi, đậu phộng; Tỏi băm, ớt hiểm băm; Ngò rí, rau răm, tương ớt; Đường, nước mắm, muối; Bột ngọt; Giấm gạo lên men.
Cách làm:

- Lưỡi heo làm sạch, cạo kĩ, luộc chín với nước có ít muối, vớt ra ngâm nước lạnh, để ráo, cắt lát mỏng.
- Hành tây, ớt chuông cắt sợi thật mỏng, ngâm nước đá 5 phút, vớt ra để ráo.
- Hành tím, sả cây cắt lát mỏng. Ngò gai, rau răm cắt khúc 5mm.
- Pha nước trộn: khuấy tan 3M đường, 2M giấm gạo lên men, 2M nước mắm, 2M tương ớt, 1M bột ngọt, thêm 1M tỏi băm, 1M ớt hiểm băm.
- Lần lượt cho rau củ quả, lưỡi heo, sả bào, hành tím vào tô, trộn với nước trộn gỏi. Thêm rau răm, ngò gai vào trộn đều.
Lưỡi heo trộn chua ngọt, Ẩm thực, Luoi heo tron chua ngot, mon ngon tu luoi heo, mon ngon tu thit heo, mon ngon moi ngay, nau an, mon ngon, am thuc, nau an ngon, mon ngon de lam, mon ngon cuoi tuan, am thuc viet nam, day nau an, mon an ngon, mon an hang ngay, hoc nau an, mon ngon hang ngay, ẩm thực việt nam, mon ngon viet nam, món ngon hà nội, mon ngon ha noi, mon an moi ngay, monngon, am thuc viet
Cho lưỡi heo trộn chua ngọt ra dĩa, trang trí với ngò rí, đậu phộng,
dùng làm món khai vị
Mách nhỏ:
- Chần lưỡi heo sau đó cạo sạch bợn trắng trên lưỡi heo giúp lưỡi sạch và không bị hôi.
- Ngâm hành tây và ớt chuông trong nước đá lạnh giúp giảm mùi hăng và tăng độ giòn.
Theo Gia đình xã hội

Độc đáo những món ăn làm từ hoa

Những bông hoa ban đẹp nguyên sơ hay những loài hoa dân dã gắn liền với vùng sông nước như điên điển, so đũa đều có thể chế biến thành món ăn hấp dẫn, mang hương vị riêng.
Không những tô điểm cho vẻ đẹp đồng quê, những bông hoa cũng có những giá trị dinh dưỡng rất cao.
1. Hoa ban
Những du khách lên Tây Bắc vào mùa tháng 3 sẽ thấy một cả rừng hoa ban nở trắng trời. Hoa ban như người thiếu nữ e ấp, khiêm nhường, chỉ nở sau khi mùa hoa đào, hoa mận đã tàn lụi theo thời gian.
Ngoài vẻ đẹp đến nao lòng, hoa ban tím còn chế biến thành nhiều món ngon. Ảnh: thegioimautim
Ngoài vẻ đẹp đến nao lòng, hoa ban tím còn chế biến thành nhiều món ngon. Ảnh: thegioimautim
Hoa đẹp mong manh là vậy, nhưng ít ai biết được những cánh hoa ban trắng tinh khôi hoặc phơn phớt tím ấy lại có thể chế biến thành những món ăn rất ngon, hấp dẫn du khách mỗi khi đặt chân lên Tây Bắc. Thường những người phụ nữ Thái hay hái hoa về nấu hoặc đem bán ở chợ như một thứ rau sạch được nhiều người ưa thích.
Hoa ban xào măng đắng có vị đắng của măng, nhưng lại có cái ngọt, bùi của hoa ban. Những phụ nữ Thái sau khi hái hoa hoa ban về, nhặt lấy cánh và nhụy hoa đem rửa nhẹ nhàng rồi trần qua nước nóng, đem vò nát rồi trộn thịt băm, gia vị nhồi cá. Ngoài ra người ta thường nấu canh, làm nộm, hoa ban hầm móng giò, xào thịt lợn rừng, ban đồ... rất hấp dẫn.
2. Hoa thiên lý
Hoa thiên lý
Vào mùa hè, hoa thiên lý nở tỏa hương thơm ngát làm mát dịu không gian. Hoa còn là loại thực phẩm bổ dưỡng, thường được chế biến thành nhiều món ăn, có tác dụng giải nhiệt, giúp ngủ ngon giấc.
Hoa thiên lý có thể nấu được nhiều món như nấu canh tôm, canh cá hú hay xào với các loại thực phẩm khác như thịt bò, xào hải sản, xào lòng gà... rất hấp dẫn. Nhưng món ăn đơn giản thường được nhiều người nấu vào mùa hè là thiên lý nấu với cua đồng, món ăn thật thanh, ngọt và thơm. Những bông hoa tươi còn e ấp nụ, được ngâm trong chậu nước rửa sạch bụi, khi cho vào nồi canh cua phải khéo léo để thịt không bị nát, gạch không bị vỡ, khi canh sôi cho hoa thiên lý vào rồi bắc ra ngay để hoa giữ nguyên sắc xanh. Thưởng thức một bữa ăn với tô canh hấp dẫn bởi màu sắc xanh rờn của những búp hoa, những tảng thịt cua điểm thêm chút gạch cua vàng óng trong mùa nắng thì không gì tuyệt bằng.
3. Hoa so đũa
Với người dân ở vùng sông nước miền Nam, hoa so đũa thường được chế biến thành những món ăn rất phong phú. Loài hoa trắng xóa hoặc tím, thường chỉ nở từ tháng 10 đến tháng 12 vừa có thể làm cây cảnh, nhưng lại vừa có giá trị dinh dưỡng rất cao.
Vào mùa so đũa, người ta thường hái những bông hoa tươi từ sáng sớm, nhặt bỏ cuống và vị đắng, bỏ đài, sau đó rửa nhẹ rồi chế biến thành những món canh chua cá rô, canh chua với khế, cá lóc, cá linh, tôm sống hoặc làm lẩu chua cùng một số loài ra khác đều rất ngon.
Bông so đũa nấu canh cá rô là một món ăn khoái khẩu của nhiều người.
Bông so đũa nấu canh cá rô là một món ăn khoái khẩu của nhiều người. Ảnh: ngoisao
Đơn giản hơn, người ta thường luộc bông so đũa, chấm với nước mắm kho quẹt hoặc luộc chung với các loài rau khác ăn giải nhiệt trong mùa hè oi bức, là món khoái khẩu của nhiều người.
4. Hoa bí

Thường thì nhiều người chỉ biết đến các món ăn được chế biến từ quả bí hoặc rau bí chứ ít ai biết được hoa bí cũng là một món ăn rất ngon. Hoa được cắt cả cuống, thường là hoa bí đực, thường được nấu canh, rất ngọt, thanh và mát. Khi cắt hoa bí về, người ta thường bỏ nhụy bên trong vì đắng, sau đó dùng luộc, xào hấp hay nấu canh với tôm khô, canh ngao, canh hến, canh cua hoặc xào chung cùng với thịt bò, thịt lợn.
Đơn giản nhất là đem luộc. Hoa bí chỉ cần luộc qua trong nồi nước sôi là đủ chín, vớt ra để nguội, vắt bớt nước chấm cùng với nước kho thịt, kho cá đều rất tuyệt.
5. Hoa điên điển
Mỗi năm vào mùa nước nổi, người dân sông nước miền Tây lại đi lấy những bông điên điển mọc tràn lan trên ruộng, trên sông rạch khi nước lũ ngập đồng. Hoa nở rộ khắp nơi tô điểm thêm một vùng quê sông nước, nhưng điên điển cũng là một món ăn mang đậm hương vị của miền quê, được coi là đặc sản sông nước.
Hoa điên điển nấu cá linh.
Hoa điên điển nấu cá linh. Ảnh: phununet
Người ta thường nấu điên điển thành các món ăn ngon như gỏi chua bông điên điển, điên điển xào tép, nộm hoa... Nhưng ngon nhất phải kể đến món canh chua hoa điên điển nấu cá linh. Cái chua chua của me, vị ngòn ngọt của cá và cái thơm, giòn, đăng đắng của bông điên điển làm tăng thêm đặc trưng của món ăn vùng sông nước.
Anh Phương

Bún nước lèo đặc sản miền Tây

Bún nước lèo Bạc Liêu là đặc sản ẩm thực không thể bỏ qua, có xuất xứ từ người Khmer.
Qua quá trình cộng cư, bún nước lèo trở thành “đặc sản chung” của người Kinh, Hoa và Khmer khắp các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Bún nước lèo thỉnh thoảng vẫn bị nhầm với bún mắm do dùng chung con mắm để nấu nước lèo nhưng đây là hai món khác biệt.
Bà con xứ Bạc Liêu truyền tai nhau nếu về xứ này mà chưa nếm qua món bún nước lèo quả là thiệt thòi. Phải thấy bún nước lèo được bán khắp nơi từ những gánh hàng rong với nồi nước nóng hổi, vài cái ghế nhựa đến những quán gia truyền mới rõ “tầm ảnh hưởng” của thứ đặc sản này.

Bún nước lèo Bạc Liêu.
Những người dân địa phương thừa nhận chính họ còn “bị ghiền” nên có thể ăn bún vào sáng, ăn nửa buổi, ăn trưa, ăn xế và cả ăn khuya…. Nhưng thú vị nhất để nếm những cọng bún trắng tươi, dai đượm mùi mắm thơm nồng là thời điểm chiều tối, khi đã kết thúc một ngày làm việc, gác công chuyện qua một bên để tận hưởng hoàn toàn sự thảnh thơi khi ngồi chờ một tô bún ra lò.
Thưởng thức món ăn này có đặc biệt là vừa bước chân tới đầu quán đã hít hà vì hương thơm ngào ngạt của nồi nước lèo nghi ngút khói. Nguyên liệu là con mắm sặt trộn với lượng thính phù hợp, đem nấu thật lâu cho rã nước thịt, đến khi chỉ còn xương thì lọc lấy phần nước dùng. Người nấu bún lâu năm thường chuộng cá sặt vào mùa mưa, cá béo thịt lại không hôi cỏ, nấu nước lèo “hết sẩy”.
Dân sành ăn luôn trao điểm mười chất lượng cho mắm cá sặt ở Bạc Liêu và Cà Mau vì mắm cá ở đây trộn thính nên thơm phức, lại vừa phải chứ không ngọt gắt như một số tỉnh. Nguyên liệu đi kèm là cá, tôm mà phải là cá lóc đồng tươi sống làm sạch luộc nguyên con, bỏ xương lấy thịt, tôm đất tươi còn nhảy cũng luộc rồi lột vỏ. Hỗn hợp nước luộc cá, luộc tôm được cho vào nồi mắm, thêm nước dừa xiêm mới có vị ngọt đậm đà. Sả làm nên vị thơm thanh dịu cho nước lèo, tước bỏ lá cũ, rửa sạch, đập dập phần thân, cuộn thành bó cho vào nồi nước. Nêm nếm gia vị cho vừa ăn, nước dùng không được mặn quá dù vẫn phải dậy mùi mắm, lại có vị ngọt của nước cá và tôm.
Bún nước lèo ăn kèm giá, hẹ, rau muống bào, rau chuối, rau quế, rau thơm, chanh, ớt bằm để lên một đĩa lớn. Rót sẵn một chén nước mắm ớt để người ăn nêm thêm nếu thích. Cho giá, hẹ, rau muống bào vào tô. Để bên trên hai khoanh bún gạo rồi nhúng qua nước sôi riêng, sau đó chan nước lèo đang sôi vào. Gắp thêm mấy lát cá, một ít tép đất để lên, ngắt rau thơm và rau quế cho vào, vắt lát chanh và rải thêm ít ớt..., là bạn có một tô bún nước lèo đậm đà, nóng sốt. Ớt ăn với bún nước lèo phải là loại ớt hiểm, trái nhỏ, cay xé.
Dân phượt truyền tai nhau đến Bạc Liêu nhớ ghé quán bún “bà Quý” đường Võ Thị Sáu “ngon nhứt xứ Bạc Liêu”. Quán nhỏ, bàn ghế kê đơn sơ, lại chẳng đề biển hiệu mà lúc nào cũng tấp nập khách. Nhận tô bún nóng hổi từ tay chủ quán kèm nụ cười chân chất của người miền Tây khiến khách càng nôn nóng muốn thưởng thức. Mùi mắm thanh nồng xộc vào mũi trước tiên quá đỗi quyến rũ, húp trước muỗng nước bún đậm đà mùi mắm mà lại vừa miệng vô cùng. Sợi bún dai hòa với rau sống giòn ngon đến lạ, ăn một tô đến no căng mà cứ thòm thèm hoài.
Người có ý định ghé thăm xứ Công tử Bạc Liêu đều được dặn “nhớ ghé thăm nhà nghệ sĩ Cao Văn Lầu để biết nơi khai sinh bản Dạ cổ hoài lang trứ danh và ăn bún nước lèo”.
Khánh Ly